MỘNG VÂN (Nhạc sĩ - Soạn giả)
Người định hình dòng cải lương kiếm hiệp hương xa
- Sinh — mất: 1910 — 1950
- Nơi sinh: Bạc Liêu
-
Tên thật: Phan Long Trung (Trần Tấn Trung)
Đóng góp lớn trong việc phát triển vọng cổ từ nhịp 8 sang nhịp 16 (tuy nhiên vấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi)
Cuộc đời & sự nghiệp
Sinh tại Bạc Liêu với tên khai sinh Phan Long Trung
Sau thời gian tham gia viết báo và các phong trào xã hội tiến bộ, ông bị chính quyền thực dân theo dõi, phải sang Nam Vang lánh nạn; tại đây ông đổi tên thành Trần Tấn Trung và dồn tâm lực nghiên cứu cổ nhạc
Kịch bản đầu tay Quan Công Hiển Thánh được gánh Thái Dương diễn khai trương, chính thức mở đầu sự nghiệp soạn giả cải lương
Khẳng định tên tuổi với vở ăn khách Tráng sĩ Kinh Kha và nâng đỡ nghệ sĩ Bảy Cao qua vở Lưỡng Long đại hiệp
Định hình trào lưu "tuồng hương xa kiếm hiệp" trên sân khấu Nam Bộ qua loạt kịch bản ăn khách như Hồng Long Quái Khách
Thành lập đoàn hát Mộng Vân, đảm nhiệm vai trò bầu gánh, soạn giả kiêm đạo diễn; sáng tác nhiều vở lớn như Đêm Tơ Vương, Triều Tiên Vong Quốc Sử
Hoàn thành kịch bản cuối cùng Đất Nước Lâm Nguy, sau đó lâm bệnh nặng và ngừng hẳn công việc sáng tác
Ngày 17/09, ông tạ thế tại Sài Gòn, để lại gia tài đồ sộ với 68 kịch bản sân khấu và hơn 30 khúc nhạc cổ cải biên
Mộng Vân (Nhạc sĩ - Soạn giả)
Mộng Vân (tên thật là Phan Long Trung, sau đổi thành Trần Tấn Trung), sinh năm Canh Tuất 1910 và mất ngày 17 tháng 9 năm 1950
THÂN THẾ VÀ HỌC VẤN
Thân thế
Mộng Vân sinh năm Canh Tuất (1910) tại làng Vĩnh Lợi, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc khu vực Trà Văn, thành phố Bạc Liêu).
Sau khi rời trường học, ông tham gia các hoạt động báo chí và phong trào xã hội đương thời. Ông được nhà báo Trần Đình Tuệ mời cộng tác với tờ La Cloche Fêlée (Cái chuông rè), nơi đăng tải các bài viết phản ánh tình hình xã hội và các tư tưởng canh tân. Trong thời gian này, ông có dịp tiếp xúc và trao đổi với nhà hoạt động Nguyễn An Ninh, đồng thời bị chính quyền thực dân Pháp theo dõi, sau đó bị truy bắt. Ông cùng Trần Đình Tuệ sang Nam Vang (nay là Phnom Penh, Campuchia). Trong giai đoạn này, ông đổi tên từ Phan Long Trung thành Trần Tấn Trung.
Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác báo chí, âm nhạc và kịch bản cải lương sau này, ông dùng nghệ danh Mộng Vân.
Học vấn
Thuở nhỏ, Mộng Vân theo học chữ Nho đồng thời đến trường học chữ Pháp và chữ Quốc ngữ tại Bạc Liêu. Rời ghế nhà trường, ông bắt đầu dấn thân vào các hoạt động báo chí, phong trào xã hội.
Về cổ nhạc, từ thời niên thiếu ông đã thọ giáo trực tiếp nhạc sư “Hậu Tổ Cổ nhạc” – nhạc sư Hai Khị tại Bạc Liêu. Nhờ tư chất thông minh, ông mau chóng nắm bắt ngón đờn và các nguyên lý của nhạc tài tử.
Trong những năm tháng lánh nạn tại Nam Vang, ông dồn trọn tâm sức nghiên cứu, sáng tác các bản cổ nhạc và viết tuồng cải lương.
SỰ NGHIỆP
Giai đoạn khởi đầu
Con đường sáng tác của Mộng Vân bắt đầu từ năm 1932 sau thời gian ông nghiên cứu cổ nhạc tại Nam Vang. Trở về An Giang, ông hoàn thành kịch bản cải lương đầu tay mang tên Quan Công Hiển Thánh – một vở tuồng đề cao nghĩa khí, chữ tín và tình bằng hữu. Bản thảo được gửi xuống Bạc Liêu cho soạn giả Trịnh Thiên Tư xem duyệt và góp ý. Nhận thấy cốt truyện hấp dẫn và phù hợp với thị hiếu đương thời, Trịnh Thiên Tư đã giới thiệu vở tuồng cho ông Đốc Tùng.
Khi đó, Đốc Tùng đang quy tụ đào kép thành lập đoàn hát Thái Dương nên đã chọn ngay Quan Công Hiển Thánh làm tuồng khai trương đoàn. Vở diễn ra mắt với sự góp mặt của dàn đào kép tài danh như Hai Nhuận, Chín Quy, Tư Luông, Năm Út, Ba Chướng (Ba Vàm Lèo); phần đờn do ban cổ nhạc danh tiếng bậc nhất Bạc Liêu bấy giờ đảm trách gồm các vị Sáu Lầu, Ba Chột, Hai Tài, Bảy Cuội, Bảy Giáo, Mười Đờn. Với trang phục rực rỡ, cảnh trí công phu và dàn nghệ sĩ thực lực, đêm diễn khai trương đã tạo tiếng vang lớn trong công chúng mộ điệu.
Đến năm 1933, khi đoàn Huỳnh Vân của Ký Huỳnh và Tám Tắc Vân ra đời tại Bạc Liêu, Mộng Vân tiếp tục được mời viết vở Nghĩa Nhẹ Hơn Tình để gánh hát mở màn, tiếp tục khẳng định uy tín của ông trong giới bầu gánh Nam Kỳ. Thành công liên tiếp từ hai vở tuồng khai trương này đã chính thức xác lập tên tuổi Mộng Vân như một cây bút viết tuồng đầy triển vọng của sân khấu Cải lương thời bấy giờ.
Các cột mốc quan trọng
Giai đoạn 1934 – 1936: Xác lập vị thế với dòng tuồng ăn khách
Mộng Vân viết tiếp hàng loạt kịch bản cho các đoàn Tân Hí và Hề Lập như Gương Quốc Sĩ, Tráng Sĩ Kinh Kha, Lưỡng Long Đại Hiệp, Hồng Châu Hiệp Nữ (còn có tên Gìn Nhiệm Vụ). Trong đó, Tráng Sĩ Kinh Kha trở thành hiện tượng sân khấu ăn khách bậc nhất thời bấy giờ, còn Lưỡng Long Đại Hiệp và Hồng Châu Hiệp Nữ trực tiếp đưa tên tuổi nghệ sĩ Bảy Cao bước lên hàng danh kép.
Giai đoạn 1937 – 1939: Bùng nổ trào lưu "tuồng hương xa kiếm hiệp"
Đây là thời kỳ bút lực của ông dồi dào nhất. Hàng loạt kịch bản kiếm hiệp ra đời như bộ ba tập Hồng Long Quái Khách (thường gọi Con Rồng Đỏ, sau đổi là Long Hình Quái Khách), Hiệp Khách Xa Trường, Độc Long Lão Hiệp, bộ ba tập Trường Xích Đạo, Chiếc Lá Vàng, Tướng Cướp Tuyết Long Sơn... Các vở diễn gây ấn tượng mạnh nhờ cốt truyện ly kỳ, rùng rợn, cảnh trí rực rỡ và trang phục lộng lẫy.
Giai đoạn 1940 – 1943: Mở rộng ảnh hưởng đến các đại bang Cải lương
Năm 1940, ông viết vở Trong Khói Lửa khai trương đoàn Chấn Hưng tại Bạc Liêu. Tiếp đó, ông sáng tác nhiều kịch bản quy mô lớn phục vụ đồng loạt nhiều gánh hát khắp Nam Kỳ: Bích Liên Vương Nữ, Ái Tình Và Nghĩa Vụ, Trái Tim Không Máu, bộ ba tập Xâu Chuỗi Ngọc (tên ban đầu là Mặt Nạ Đỏ), Máu Kẻ Thù, Giọt Máu Song Hằng... Nhiều kịch bản của ông được nhiều gánh hát lớn nhỏ cùng dàn dựng song song.
Năm 1944 – 1945: Thành lập và điều hành đoàn hát Mộng Vân
Ông đứng ra lập gánh hát riêng mang tên Đoàn Cải lương Mộng Vân, quy tụ đông đảo đào kép thành danh từ các kịch bản của ông. Trong thời gian này, ông kiêm nhiệm trọn vẹn ba vai trò: bầu gánh, soạn giả và đạo diễn; cho ra mắt các vở tuồng ăn khách như Đêm Tơ Vương, Triều Tiên Vong Quốc Sử, Thử Lửa, Sự Chiến Thắng Của Trái Tim.
Giai đoạn 1946 – 1948: Hỗ trợ các gánh hát kháng chiến và kịch bản cuối cùng
Sau khi đoàn Mộng Vân giải tán, ông tiếp tục sáng tác hỗ trợ nhiều bầu gánh đồng hương và các đoàn hát mới thành lập: viết 714 cho đoàn Oanh Vàng của Tư Chức; Cánh Vàng Trong Lửa Đỏ, Đội Quân Tình Nguyện cho đoàn Tân Tiến; Cô Gái Quảng Trị cho đoàn Hậu Tấn Bảy Cao; Ngũ Tử Tư Quá Quan, Phạm Lãi Tây Thi cho đoàn Hậu Tấn Nam Bình (Năm Nghĩa); đồng thời cung cấp kịch bản cho các đoàn Nhạn Trắng, Hoa Sen, Thanh Minh. Đầu năm 1948, ông hoàn thành kịch bản cuối cùng mang tên Đất Nước Lâm Nguy trước khi lâm bệnh nặng và dừng hẳn sự nghiệp sáng tác.
Thành tựu
Định hình dòng tuồng "Hương xa kiếm hiệp":
Màu sắc hóa trang phục, làm lộng lẫy cảnh trí và khai thác các tích truyện Tây, Tàu ly kỳ, rùng rợn để phản ánh xã hội đương thời; tạo nên trào lưu sân khấu ăn khách và ảnh hưởng sâu đậm đến hàng loạt soạn giả đương thời (Bảy Cao, Năm Nghĩa, Sáu Hải, Mộng Vân Tử...)
Sở trường viết kịch bản "Đo ni đóng giày":
Soạn tuồng tùy theo sắc vóc, biến điểm hạn chế ngoại hình của diễn viên thành ưu điểm nghệ thuật; trực tiếp nâng đỡ tên tuổi cho Ba Khuê (vai chính tật nguyền trong vở Hoàng Tử Lưng Gù)
Sáng tạo các bản vắn gối đầu vào Vọng cổ:
Tự sáng tác hơn 30 khúc nhạc cổ mới đưa vào kịch bản để gối đầu vô Vọng cổ thay thế cho những câu nói lối xưa. Hiện còn sưu tầm được 09 bản có ký âm đầy đủ: Quý Phi Túy Tửu, Sơn Đông Hướng Mã, Kiều Nương, Bá Hoa, Giang Tô Điểu Ngữ, Phong Nguyệt, Tấn Phong, Tân Xái Phỉ, Sương Chiều.
Đóng góp chuyển đổi bản Vọng cổ nhịp 16:
Theo sách Tinh hoa Nghệ thuật Bạc Liêu (trang 318–319), căn cứ lời của nhạc sĩ Trần Hữu Hỷ và Trần Tấn Hưng, Mộng Vân là người đầu tiên chuyển đổi bản Vọng cổ nhịp 8 sang nhịp 16 vì thấy "độ mùi chưa đủ", làm tiền đề cho nhạc sĩ Trần Tấn Hưng phát triển tiếp lên bản nhịp 32.
(Tuy nhiên, vấn đề ai là người đầu tiên làm nên bản Vọng cổ nhịp 16 trong lịch sử cổ nhạc, cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận và chưa có sự đồng thuận tuyệt đối giữa các nhà nghiên cứu).
Khối lượng sáng tác đồ sộ trong thời gian ngắn:
Chỉ trong 16 năm cuối đời (1932 – 1948), ông đã biên soạn 68 kịch bản cải lương và sáng tác hơn 30 nhạc khúc. Kịch bản của ông có tính phổ cập lớn, không kén người diễn lẫn người xem, nhiều vở được nhiều đoàn hát dàn dựng biểu diễn cùng một thời gian như Bích Liên Vương Nữ, Xâu Chuỗi Ngọc…
ĐỜI TƯ
Vợ của Mộng Vân là bà Phạm Ngọc Dung. Các tài liệu nói về đời tư của ông từ trước đến nay rất hiếm hoi, ngay cả thân nhân và các đệ tử của ông mỗi người cũng chỉ biết được một vài phương diện.
GIẢI THƯỞNG VÀ TÔN VINH
Ông được UBND tỉnh Bạc Liêu truy tặng bằng tuyên dương vào ngày 25 tháng 4 năm 2014 tại lễ Khánh thành Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (trong khuôn khổ Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất tổ chức tại Bạc Liêu).
Danh mục tác phẩm
Trong suốt sự nghiệp của mình, MỘNG VÂN đã sáng tác/tham gia tổng cộng 70 tác phẩm.