Tại Mỹ Tho, Ban Đờn ca tài tử của nhạc sư Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) hát “giáo đầu” cho rạp chiếu bóng của thầy Năm Tú. Hình thức này dần trở nên đắt khách.
Đến năm 1915, André Thận lập gánh hát xiếc có Ca-Ra-Bộ — lối ca đối thoại trên bộ ván gõ, bài trí đơn giản với vài cây cảnh. Gánh hát có các nghệ sĩ Bảy Thông, Tám Cang, Hai Cúc, lưu diễn khắp Tây Nam Phần, trong đó các tích truyện Bùi Ông – Bùi Kiệm – Nguyệt Nga được trình diễn phổ biến.
Đến năm 1918, thầy Năm Tú xác gánh gánh ca kịch của André Thận và mời Trương Duy Toản soạn tuồng. Từ đây, nhiều tích truyện quen thuộc trong dân gian lần lượt ra đời.
Sau đó, các gánh hát Đồng Bào Nam của cô Tư Sự và Nam Đồng Ban của ông Hai Cu xuất hiện, với sự tham gia của các nghệ sĩ Hai Giỏi, Năm Châu, Năm Phỉ, Phùng Há, Tư Sạng.
Từ quá trình này, điệu ca Cải lương dần được định hình và phát triển. Nhiều ban hát được thành lập như Văn Hí Ban (Chợ Lớn), Tân Phước Nam (Sóc Trăng), Sĩ Đồng Ban (Long Xuyên), hoạt động rộn rịp khắp Tây Nam Phần: Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá…
Vọng cổ
Vọng cổ, mang ý nghĩa là "tiếng vọng cố hương", được xem là cốt lõi và linh hồn của sân khấu Cải lương qua câu nói nổi tiếng: "Phi vọng cổ bất thành cải lương"- soạn giả Hoa Phượng.
Khởi nguồn của Vọng cổ là bản Dạ Cổ Hoài Lang do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) sáng tác năm 1917, được biến tấu từ điệu thức Bắc của bài Hành Vân sang điệu thức Nam, hơi Ai
Từ hình thức sơ khai ban đầu là nhịp 2 (mỗi câu 2 nhịp), Vọng cổ đã trải qua quá trình phát triển và kéo giãn nhịp điệu liên tục theo cấp số nhân, nhờ công lao của các thế hệ nhạc sư: Tư Chơi, Năm Nghĩa, Mộng Vân, Trịnh Thiên Tư và Năm Nhỏ.