Vọng cổ Hoài Lang số 13
Khi cá chim cũng biếng lội lười kêu
và triết lý buông bỏ của người xưa
Từ hơn trăm năm trước, khi vọng cổ nhịp 2 (Vọng cổ Hoài Lang) vừa xuất hiện, bài bản này đã trở thành nơi gửi gắm nhiều tâm tình của con người Nam Bộ. Người ta tìm đến vọng cổ để nói chuyện nhớ thương, đợi chờ, ly biệt và những nỗi buồn khó gọi thành tên. Nhưng bên cạnh những câu hát đượm chuyện nhân tình thế thái, vọng cổ buổi đầu còn lưu giữ nhiều bản lời mang đậm tinh thần triết lý Á Đông, nơi con người suy ngẫm về việc buông bỏ ảo ảnh tìm chốn tĩnh tâm.
Điển hình như trong bản lời Vọng cổ Hoài Lang số 13, người nghe sẽ bắt gặp những hình ảnh mang đậm tính “buông xã” như:
"Cá nghe kinh nơi liên-trì biếng lội.
Chim muốn tu-hành đậu trên nhành dường cũng ít kêu.
Hồi vui thì xem hạc múa trên đèo.
Còn khi buồn ta đàm đạo với lũ ngư tiều.
Nhân tình nghĩ tới bao nhiêu.
Càng khiến giựt mình sợ hãi bấy nhiêu.
Mê ái-ân đà trải lắm cảnh hiểm nghèo.
Thuyền tình qua ba chuyến mà cái thân cánh bèo, cũng còn lắm linh đinh."
Thoạt nghe, đây giống như một bức tranh thủy mặc tĩnh lặng, nhưng ẩn bên trong luôn có những lớp ý nghĩa sâu xa. Người xưa mượn chính sự lặng đi của cảnh vật để nói về một ước mong: tìm kiếm sự bình yên trong tâm tưởng. Cá dưới liên trì như chậm lại nhịp bơi, chim trên cành cũng thưa tiếng hót. Mọi chuyển động đều trở nên nhẹ hơn, nhường chỗ cho một không gian tĩnh lặng giữa cửa thiền và núi non thanh vắng.
Nhưng điều thú vị là đằng sau vẻ tĩnh tại ấy vẫn thấp thoáng bóng dáng của những nỗi niềm đau đáu:
"Nhân tình nghĩ tới bao nhiêu, càng khiến giựt mình sợ hãi bấy nhiêu.
Mê ái-ân đà trải lắm cảnh hiểm nghèo.
Thuyền tình qua ba chuyến mà cái thân cánh bèo, cũng còn lắm linh đinh."
Sau nhiều phen nổi trôi giữa ái ân và nhân thế, nhân vật trong bài ca dường như dứt chốn hồng trần. Thế nhưng bài ca không kể về một sự buông bỏ tuyệt đối. Giữa ý nguyện tìm nơi thanh tịnh, vẫn còn đó nỗi vấn vương rất đời. Có lẽ chính sự chênh chao giữa muốn quên và chưa thể quên ấy đã làm cho bản lời trở nên gần gũi với người nghe qua nhiều thế hệ.
Khi những bản Vọng cổ Hoài Lang nhịp 2 xuất hiện vào thập niên 1920, Việt Nam đang ở trong giai đoạn nhiều biến động dưới thời thuộc địa Pháp. Xã hội chuyển mình giữa những giá trị cũ và những luồng tư tưởng mới. Cuộc sống thay đổi kéo theo nhiều biến chuyển trong tâm thức con người. Trong bối cảnh ấy, vọng cổ không chỉ là một hình thức giải trí, mà còn trở thành nơi chuyên chở tâm trạng, suy tư và khát vọng của những con người đương thời.
Bản lời Vọng cổ Hoài Lang số 13 hiện là một phần trong bộ sưu tập 16 bản lời Vọng cổ Hoài Lang nhịp 2, được trưng bày tại website Bảo tàng Cải lương Nam Bộ. Bộ sưu tập này mở ra cơ hội để công chúng tiếp cận rõ hơn diện mạo của vọng cổ buổi đầu, từ ngôn ngữ, cách đặt lời đến đời sống tinh thần ẩn sau mỗi câu hát
Đặc biệt, các bản lời không chỉ được số hóa dưới dạng văn bản mà còn được nghệ sĩ - soạn giả Linh Huyền thu âm và thể hiện lại. Nhờ đó, những con chữ từng nằm trên trang giấy cũ có dịp trở về với tiếng ca, giúp người nghe hình dung rõ hơn cách hát một bản vọng cổ xưa.
Kính mời quý vị ghé thăm bộ sưu tập 16 bản lời vọng cổ nhịp 2 của Bảo tàng Cải lương Nam Bộ, để lắng nghe những tiếng hát đã đi qua gần một thế kỷ. Và biết đâu, giữa một câu ca xưa, ta lại bắt gặp một nỗi niềm đồng điệu với chính ngày hôm nay!